Nhiễm sởi: Nguyên nhân, chẩn đoán và hướng dẫn điều trị theo BMJ

 Nhà thuốc Ngọc Anh – Để tải bài viết Nhiễm sởi: Nguyên nhân, chẩn đoán và hướng dẫn điều trị theo BMJ file PDF xin vui lòng click vào link ở đây.


Tóm tắt

◊ Có thể phòng ngừa bằng tiêm chủng, nhưng mức độ bao phủ phải cao để phòng ngừa xảy ra bùng phát dịch bệnh.

◊ Không có phương pháp điều trị bệnh sởi đặc hiệu trừ chăm sóc hỗ trợ.

◊ Các biến chứng của bệnh sởi thường gặp hơn ở những người suy giảm miễn dịch và thiếu dinh dưỡng, bao gồm viêm phổi, viêm thanh-khí quản, viêm tai giữa, và viêm não.

Thông tin cơ bản

Định nghĩa

Bệnh sởi là bệnh lây nhiễm cao do vi-rút sởi gây ra, có đặc điểm là phát ban dát sẩn, ho, viêm mũi, viêm kết mạc, và hạt Koplik có thời kỳ ủ bệnh khoảng 10 ngày.

Dịch tễ học

Trong kỷ nguyên trước khi có vắc-xin, bệnh sởi có ở khắp mọi nơi. Ở Anh Quốc, có 160.000 đến 800.000 ca bệnh được báo cáo hàng năm, với đỉnh cao của chu kỳ là cứ 2 năm một lần.[1] Tại Hoa Kỳ, dịch bệnh cũng xảy ra khoảng 2 đến 5 năm một lần; mỗi năm có 200.000 đến 400.000 ca bệnh được báo cáo nhưng trên thực tế gần như mỗi trẻ trong từng nhóm trẻ mới sinh có khoảng 4 triệu trẻ bị ảnh hưởng. Tỷ lệ tấn công cao nhất xảy ra ở trẻ từ 5 đến 9 tuổi, nhưng giữa bé trai và bé gái không có sự khác biệt ở tỷ lệ mắc bệnh được ghi nhận .[2] Vào những năm 1960, người ta đã bắt đầu giới thiệu vắc-xin sởi, giúp giảm đến hơn 99% số ca bệnh sởi được báo cáo. Khuyến cáo tiêm hai liều vắc-xin sởi để đảm bảo sức đề kháng.[3] Ở Phần Lan, người ta đã đưa vào sử dụng tiêm vắc-xin MMR 2 liều từ năm 1982, liên tục đạt được phạm vi bảo vệ cao. Từ năm 1994, bệnh sởi bản địa đã được loại bỏ.[4]

Ở Hoa Kỳ, từ năm 1994, hầu hết các ca bệnh là người nhập cảnh hoặc có liên quan tới những bệnh nhân nhập cảnh.[5] Vào năm 2000, người ta tuyên bố bệnh sởi không còn là dịch bệnh tại Hoa Kỳ nữa.

Vào năm 2014, tại Hoa Kỳ có báo cáo về 667 ca bệnh sởi, đó là số ca bệnh cao nhất từ khi có ghi nhận loại bỏ bệnh sởi vào năm 2000. Vào năm 2017, có 118 ca bệnh sởi tại Hoa Kỳ.[6]Phần lớn các ca nhiễm bệnh là ở những người không được tiêm phòng. Người ta cũng nhận biết các du khách trở về là nguồn gây bùng phát dịch bệnh.[7]

Trên thế giới, bệnh sởi vẫn là bệnh nhiễm trùng thường gặp. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) báo cáo rằng bệnh sởi bùng phát lại ở Vùng Châu Âu của WHO. Sau khi có ghi nhận về tỷ lệ mắc bệnh thấp 5273 ca bệnh vào năm 2016, đã có 21.315 ca bệnh vào năm 2017, với 35 ca tử vong.[8] Bệnh có mặt khắp nơi nếu không có chương trình tiêm chủng. Mặc dù gánh nặng bệnh tật toàn cầu đã giảm đáng kể nhờ các chương trình tiêm chủng và tỷ lệ các ca tử vong do sởi toàn cầu cũng giảm từ 550.100 vào năm 2000 xuống 89.780 vào năm 2016, bệnh sởi vẫn còn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong có thể phòng ngừa bằng vắc-xin ở trẻ em dưới 5 tuổi và là nguyên nhân của tỉ lệ mắc bệnh đáng kể.[9] [10]Phần lớn tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong do bệnh sởi xảy ra ở các quốc gia có thu nhập thấp với cơ sở hạ tầng y tế yếu kém.[11]

Bệnh căn học

Bệnh sởi do vi-rút RNA có hình cầu thuộc chi Morbillivirus và họ Paramyxoviridae gây ra.[Fig-1]

Vi-rút sởi có kích thước khá lớn, vật chất di truyền là ARN. Nó liên quan đến virus canine distemper và rinderpest, nhưng bệnh sởi khác với 2 vi-rút này vì không có các neuraminidase đặc hiệu, và nó ngưng kết hồng cầu trong khi các loại khác thì không.

Vi-rút sởi không chịu nhiệt. Con người là vật chủ tự nhiên nhưng khỉ cũng có thể bị bệnh. Các chủng trong phòng thí nghiệm có thể nhiễm bệnh cho chuột và chuột hamster.

Sinh lý bệnh học

Vi-rút sởi lây truyền qua các giọt nước bọt và xâm nhập các tế bào biểu mô ở mũi và kết mạc. Vi-rút sinh sôi trong các tế bào biểu mô này, sau đó lan rộng ra các hạch bạch huyết khu vực. Nhiễm vi-rút nguyên phát xảy ra từ 2 đến 3 ngày sau khi nhiễm trùng, và vi-rút sởi tiếp tục nhân đôi trong tế bào biểu mô và hệ liên võng nội mô trong vài ngày tiếp theo.

Nhiễm vi-rút thứ phát xảy ra vào trong 5 đến 7 ngày, và nhiễm trùng gây ra các biểu hiện ở da và các tổ chức khác kể cả đường hô hấp trong 7 đến 11 ngày. Giai đoạn khởi phát, kéo dài 2 đến 4 ngày, bao gồm sốt, khó chịu, ho, viêm mũi, và viêm kết mạc. Các hạt Koplik có thể phát triển trên niêm mạc má khoảng 1 đến 2 ngày trước khi phát ban và có thể rõ ràng trong 1 đến 2 ngày sau khi khởi phát ban. Sau đó phát ban tiến triển khoảng 14 ngày sau khi nhiễm trùng; lúc này có thể tìm thấy vi-rút trong máu, da, đường hô hấp và các cơ quan khác. Trong vài ngày tiếp theo, vi-rút huyết giảm dần dần vì các ban hợp lại và từ từ biến mất cùng với các dấu hiệu và triệu chứng khác. Nhiễm vi-rút huyết và sự xuất hiện vi-rút trong mô và các cơ quan giảm trong 15 đến 17 ngày tương ứng với sự xuất hiện của kháng thể.[12]

Thông tin liên hệ

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Những lưu ý trong chăm sóc thai phụ bị tiền sản giật

Các bệnh về tim mạch thường gặp và hướng dẫn điều trị

Có nên nâng má hóp bằng kỹ thuật tiêm chất làm đầy không?